KHOA TRUYỀN NHIỄM – DA LIỄU – DỊ ỨNG (A4)
1. Lịch sử hình thành và phát triển của khoa
- Năm thành lập khoa: 1964.
Khoa truyền nhiễm Bệnh viên QY 121 ngày nay được hình thành và phát triển vào năm 1964, từ khoa Nội – Truyền nhiễm (Z12C) thuộc Bệnh viện Z12. Khoa được biên chế 35 nhân viên, do bác sỹ Nguyễn Thế Cường, phó giám đốc Bệnh viện Z12 làm trưởng khoa, bác sỹ Nguyễn Văn Vĩnh làm phó khoa, đồng chí Nguyễn Xuân Sáng làm chính trị viên. Khoa có nhiệm vụ tổ chức thu dung và điều trị thương bệnh binh nặng từ các tuyến gửi về, đóng quân ở rạch Kim Quy- Mương đào thuộc xã Vân Khánh, huyện An Biên, Rạch Gía. Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn gian khổ và khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, những cũng rất hào hùng, oanh liệt. Cán bộ, chiến sỹ khoa Z12C vừa phải cấp cứu, điều trị, nuôi dưỡng, bảo vệ thương bệnh binh vừa phải trực tiếp cầm sung chiến đấu chống địch càn quét bảo vệ thương bệnh binh, góp phần rất lớn vào việc đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang lần thứ nhất của Bệnh viện Quân y 121 mà Đảng và Nhà nước trao tặng.
Sau năm 1975 khoa nội- truyền nhiễm được tổ chức biên chế thành nhiều khoa nội theo hướng chuyên khoa trong đó có khoa nội truyền nhiễm (khoa A4). Lúc đầu khoa A4 do Bác sỹ Tư Lâm về sau do bác sỹ Nguyễn Chưởng Ấn làm trưởng khoa. Khoa được biên chế 20 nhân viên. Hòa bình lập lại chưa được bao lâu thì chúng ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới của Pôn Pốt- Ieng Xa Ri và tiếp theo là những năm tháng dài làm nghĩa vụ quốc tế trên đất Campuchia. Khoa A4, Bệnh viện 121 thời kỳ này vừa phải làm tròn nhiệm vụ chính trị trọng tâm ở trong nước là thu dung, cấp cứu điều trị của tuyến cuối Quân khu vừa tăng cường lực lượng, thành lập nhiều tổ phòng chống sốt rét giúp các đơn vị tuyến trước ở mặt trận 979 điều trị sốt rét, đến tận các đơn vị như e1, e2, e3 thuộc f330; e8, e10, e14 thuộc f 339. Nhiều đồng chí bị sốt rét, thậm chí có đồng chí đã hy sinh vì căn bệnh sốt rét, nhưng suốt từ năm 1984 đến năm 1990 năm nào khoa cũng tăng cường từ 2 đến 3 tổ phòng chống sốt rét đến tận các đơn vị. Ở trong nước khoa A4 trở thành khoa chủ công trong điều trị bệnh sốt rét. Đặc điểm giai đoạn này là 100% TBB đều mắc bệnh sốt rét. Vì vậy khoa vừa điều trị sốt rét cho hơn 200 bệnh nhân nằm điều trị tại khoa vừa điều trị trên 500 BN nằm rải rác tất cả các khoa, đồng thời vừa chăm sóc, điều trị vết thương chiến tranh cho những thương binh bị sốt rét nặng, uốn ván nằm tại khoa. Trong thời kỳ này khoa đã có nhiều đề tài khoa học được báo cáo và được Cục Quân y, Bộ Quốc phòng và các đồng nghiệp đánh giá rất cao như “Điều trị sốt rét ác tính”, “Điều trị sốt rét đái huyết cầu tố”, “Điều trị sốt rét suy kiệt”, “Điều trị và chăm sóc bẹnh uốn ván”… Khoa A4 cũng là nơi nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc Artemecinin của BQP, về sau công trình này đã được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhờ những đóng góp đặc biệt đó, cùng với tập thể Bệnh viện QY 121 đã được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang lần II.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang ở Campuchia, tháng 8 năm 1999, khoa A4 bắt đầu thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng và phát triển. Nhiều bác sỹ được cử đi đào tạo bác sỹ, CKI, CKII.
Ngày nay khoa A4 là một trong những khoa chủ công của Bệnh viên. Nhiệm vụ trung tâm của khoa là thu dung, cấp cứu, điều trị cho bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm nằm điều trị tại khoa, phòng chống dịch bệnh trên địa bàn Quân khu, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ với Quân y tuyến trước, giúp các đơn vị dân y trên địa bàn Quân khu khi có dịch bệnh hoặc thiên tai, thảm họa xảy ra, đồng thời tiếp tục nghiên cứu khoa học. Trong công tác chuyên môn khoa đã điều trị thành công được rất nhiều ca bệnh nặng như uốn ván, viêm não, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, bệnh nhân AIDS. Từ năm 2009 theo sự chỉ đạo của Cục Quân y và được sự hỗ trợ của chương trình PEPFAR Hoa Kỳ, khoa đã tham gia chương trình phòng chống HIV/AIDS Quốc gia. Hiện tại khoa đang quản lý và chăm sóc cho trên 200 bệnh nhân HIV/AIDS, đã giúp cho họ hồi phục tốt cả về sức khỏe lẫn tinh thần, xóa hết mặc cảm bệnh tật và tái hòa nhập tốt với cộng đồng. Đây là một chương trình rất nhân đạo, thể hiện tính nhân văn cao cả.
Trên mặt trận phòng chống dịch, khoa đã trực tiếp tham gia chống dịch sốt xuất huyết năm 2004 ở Sóc Trăng, dịch viêm màng não do não mô cầu ở e9 và Trường QS Sóc Trăng năm 2012, dịch H1N1 ở d8 e3 f330 năm 2010, dịch cúm Covid-19 được Cục Quân y đánh giá rất cao về năng lực chuyên môn cũng như khả năng phát hiện sớm, khống chế dịch bệnh, không để lây lan rộng. Khoa cũng đã tham gia khắc phục hậu quả bão lụt và phòng chống dịch bệnh năm 2007 ở Bến Tre, được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.
Trong công tác nghiên cứu khoa học, khoa đã có nhiều đề tài được báo cáo và ứng dụng trong thực tiễn như “Nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng bệnh sốt xuất huyết dengue”, “Lâm sàng và điều trị bệnh thương hàn”, “Đánh giá kết quả điều trị ARV/nhiễm HIV”, “Điều trị bệnh viêm gan B, C mạn tính”, tham gia cùng Quân y Autralia nghiên cứu về bệnh sốt xuất huyết dengue…
Khoa, Chi bộ khoa A4 trong nhiều năm liền chi bộ đạt chi bộ trong sạch vững mạnh toàn diện. Khoa, Chi bộ và nhiều cá nhân được khen thưởng trong phong trào thi đua quyết thắng. Mặc dù là khoa truyền nhiễm, nguy cơ lây nhiễm rất cao nhưng tập thể khoa đều không ngại khó khăn gian khổ, không ngại lây nhiễm, khắc phục mọi khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cấp trên giao cho.
Trải qua trên 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, tập thể Chi bộ, khoa Z21C ngày xưa và khoa Truyền nhiễm – Da liễu – Dị ứng (A4) ngày nay đã có một tập thể vững mạnh về tư tưởng, chính trị, giỏi về chuyên môn, được đào tạo cơ bản, đang ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật y học tiên tiến trong công tác công tác chẩn đoán và điều trị cho bộ đội và nhân dân vào điều trị tại khoa. Cùng với tập thể Bệnh viện trong đó có khoa Truyền nhiễm – Da liễu – Dị ứng đang trên đà xây dựng và phát triển, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao cho.
2. Lãnh đạo Khoa qua các thời kỳ
2.1 Chủ nhiệm khoa qua các thời kỳ
TT | HỌ TÊN | CÂP BẬC, CHỨC VỤ | THỜI GIAN | GHI CHÚ |
1 | Nguyễn Thế Cường | 1// Phó GĐ, CNK | 1964 – 1975 | |
2 | Nguyễn Thanh Lâm | 3/ CNK | 1975 – 1979 | |
3 | Thái Đặng Minh | CNK | 1979 – 1982 | |
4 | Nguyễn Chưởng Ấn | 2//, 3//, 4// CNK, Phó GĐ | 1982 – 1991 | |
5 | Nguyễn Văn Mẫn | 1// CNK | 1991 – 1995 | |
6 | Trang Cao Thắng | 1// CNK | 1995 – 1999 | |
7 | Mai Ngọc Chuẩn | 3//, 4// CNK | 1999 – 2002 | |
8 | Trang Cao Thắng | 3//, 4// CNK | 2002 – 2015 | |
9 | Nguyễn Tuấn Anh | 4// CNK | 2015 – 2019 | |
10 | Lê Đức Nhuận | 2//, 3// CNK | 2019 – đến nay |
2.2 Phó CNK qua các thời kỳ
TT | HỌ TÊN | CẤP BẬC, CHỨC VỤ | THỜI GIAN | GHI CHÚ |
1 | Nguyễn Văn Vĩnh | Phó CNK | 1964 – 1975 | |
2 | Không có phó CNK | 1975 – 1979 | ||
3 | Không có phó CNK | 1979 – 1982 | ||
4 | Nguyễn Quốc Toán | Phó CNK | 1982 – 1991 | |
4 | Trang Cao Thắng | 3/, 4/ Phó CNK | 1991 – 1995 | |
5 | Nguyễn Tuấn Phương | 1//, 2// Phó CNK | 1995 – 2004 | |
6 | Nguyễn Tuấn Anh | 3//, 4// | 2004 – 2015 | |
7 | Lê Đức Nhuận | 1//, 2// Phó CNK | 2015 – 2019 | |
8 | Không có phó CNK | 2019 – 2022 | ||
9 | Tạ Ngọc Bính | 2// Phó CNK | 2023 – đến nay | Đi đảo |
3. Tổ chức biên chế, chức năng, nhiệm vụ, quy mô và những thành tựu hiện nay
– Lãnh đạo khoa hiện nay:
Chủ nhiệm khoa: BS CKII: Lê Đức Nhuận, cấp bậc: Đại tá

BS CKII: Lê Đức Nhuận, cấp bậc: Đại tá
Phó CNK: BS.CKI: Tạ Ngọc Bính, cấp bậc: Trung tá

Tạ Ngọc Bính, cấp bậc: Trung tá
– Điều dưỡng trưởng: Nguyễn Thị Thu Hương, Thượng tá CN

Nguyễn Thị Thu Hương, Thượng tá CN
– Quân số hiện nay: Tổng số 17 đồng chí trong đó;
Bác sĩ: 06. Điều dưỡng: 10. Hộ lý: 01

TT | HỌ TÊN | CẤP BẬC | CHỨC VỤ |
1 | Lê Đức Nhuận | 4// | CNK |
2 | Tạ Ngọc Bính | 2// | P.CNK (tăng cường đảo) |
3 | Nguyễn Thị Thanh Vân | 3// | BSĐT |
4 | Dương Thanh Mai | 2//CN | BSĐT |
5 | Nguyễn Thị Thu Hương | 3//CN | CNĐD |
6 | Lê Thị Thu Thủy | 2//CN | CNĐD |
7 | Hồ Thị Thanh Thủy | 2//CN | CĐĐD |
8 | Trần Yến Linh | 3/CN | CĐĐD |
9 | Nguyễn Thị Huyền Trân | HĐ | BSĐT |
10 | Nguyễn Thị Triết Giang | HĐ | BSĐT |
11 | Lương Tiểu Yến | HĐ | BSĐT |
12 | Võ Thị Hoàng Thoại | HĐ | CĐĐD |
13 | Nguyễn Thị Đỗ Quyên | HĐ | CĐĐD |
14 | Nguyễn Thị Châu Khoa | HĐ | CĐĐD |
15 | Nguyễn Thị Nha Mẫn | HĐ | CĐĐD |
16 | Nhan Như Ngọc | HĐ | CĐĐD |
17 | Trần Thị Linh Đam | HĐ | ĐDTC |
18 | Nguyễn Thị Hoa | HĐ | HL |
– Chức năng, nhiệm vụ của khoa: Khoa có nhiệm vụ thu dung, cấp cứu, điều trị các bệnh truyền nhiễm, các bệnh gây dịch kể cả các bệnh nguy hiểm như: Bệnh mô não cầu, uốn ván, sốt mò, HIV/AIDS, H1N1, H5N1, Covid-19…
Bênh cạnh việc cấp cứu, điều trị các BN nằm điều trị nội trú, khoa còn quản lý 02 phòng khám ngoại trú, trong đó có 01 phòng chuyên chăm sóc và điều trị ngoại trú cho BN HIV/AIDS. Tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu KH.
Ngoài ra khoa còn tham gia công tác phòng chống dịch, khi có dịch xảy ra trên địa bàn Quân khu, tham gia phòng chống thiên tai thảm họa
– Quy mô: Khoa được xây dựng một tòa nhà riêng, bố trí ở một khu riêng. Khoa đủ trang thiết bị và giường phục vụ cho 70 BN.
– Thành tựu hiện nay: Khoa đã cấp cứu và điều trị thành công nhiều cas bệnh nặng hiểm nghèo như uốn ván, viêm màng não mủ, bệnh mô não cầu, shock Dengue, HIV/AIDS giai đoạn cuối, nhiều cas bệnh lý phúc tạp khó chẩn đoán… tạo được niềm tin cho bệnh nhân và nhân dân trong khu vực.
4. Định hướng phát triển trong thời gian tới:
Tiếp tục nâng cao chất lượng thu dung, cấp cứu, điều trị ngày một tốt hơn. Bên cạnh đó, khoa xây dựng kế hoạch phát triển nâng cao về chất lượng điều trị các bệnh lý ngoài da bằng máy LASER CO2 khi được trang bị máy (đã làm đề nghị gửi cho Bệnh viện)./.




