Liên hệ:

1900 0339

Breadcrumb Navigation

Ngày Đăng :

Danh Mục :

Điện cơ đồ (EMG: Electromyogram)

Khái niệm:

Đo điện cơ là một kỹ thuật ghi lại hoạt động điện của cơ. Khi cơ hoạt động sẽ sinh ra dòng điện. Dòng điện này thường tỉ lệ với mức độ hoạt động của cơ. Đo điện cơ còn được gọi là điện cơ đồ.

Các kiểu đo điện cơ:

Có 2 kiểu đo điện cơ là đo điện bên trong cơ và đo điện ở bề mặt da.

Đo điện bên trong cơ (là cách thường dùng nhất), cắm một kim điện cực xuyên qua da vào bên trong cơ để đo hoạt động điện.

Đo điện cơ ở bề mặt bằng cách đặt một điện cực lên bề mặt da( mà không cắm điện cực vào sâu bên trong cơ) để đo hoạt động điện của cơ.

Đo điện bên trong cơ là dạng kinh điển của đo điện cơ trên bề mặt da.

Đo điện cơ bên trong cơ

Cắm kim xuyên qua da vào cơ cần đo. Kim sẽ phát hiện hoạt động điện của cơ (giống một điện cực). Hoạt động điện được biểu hiện trên máy đo dao động ký và thể hiện dạng âm thanh qua một máy nghe microphone (đeo tai).

 Cơ xương (cơ vân) thường lớn, điện cực cần cắm nhiều nơi trên cơ mới có thể thu được thông tin chính xác về hoạt động của điện cơ.

Sau cắm điện cực, người bệnh được yêu cầu co cơ (ví dụ co khuỷu tay).

Kích thước và hình dạng của sóng hiện tại (điện thế hoạt động) được thể hiện trên dao động ký, cung cấp thông tin về khả năng hoạt động của cơ đối với đáp ứng kích thích thần kinh. Mỗi sợi cơ khi co thắt sẽ sinh ra điện thế động. Kích thước của sợi cơ sẽ ảnh hưởng đến tần số và biên độ điện thế hoạt động.

Đo điện cơ trên bề mặt da:

Đo điện cơ có một số đặc điểm thu hút. Đặc biệt là đo điện cơ bề mặt không cần phải đâm kim qua da và vì vậy người bệnh không bị đau. Trong y văn cho rằng giá trị thông tin thu được bằng phương pháp này thường không tốt bằng so với đo điện cơ cắm vào cơ. Hiệp hội chẩn đoán bằng điện học đã báo cáo rằng: “Trên thực tế, hầu như y văn không  ủng hộ việc sử dụng đo điện cơ trên bề mặt da trên lâm sàng để chẩn đoán và quản lý  bệnh nhân bị bệnh về thần kinh hay cơ.” Mặc dù vậy, đo điện cơ trên bề mặt da chứng tỏ vẫn còn giá trị trong tương lai giúp theo dõi sự tiến triển các rối loạn thần kinh và cơ.

Thử nghiệm trong quá trình đo điện cơ:

Thử nghiệm về tốc độ dẫn truyền thần kinh  thường được thực hiện cùng lúc với đo điện cơ. Dây thần kinh được kích thích bằng điện cực thứ hai  phát hiện xung điện ‘đang hạ thấp’ từ tốc độ dẫn truyền thần kinh. Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh (NCS) thường được thực hiện bằng một điện cực dán trên da (giống đo điện tim) ở nhiều vị trí phân bố khác nhau của dây thần kinh. Một điện cực kích thích thần kinh có một xung điện biến đổi nhẹ. Kết quả của hoạt động điện được ghi lại bằng nhiều điện cực khác nhau. Khoảng cách giữa các điện cực và thời gian bắt xung của các điện cực giữa hai điện cực được sử dụng để tính tốc độ truyền của xung điện (tốc độ dẫn truyền thần kinh). Khi tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm đi nói lên có bệnh lý ở dây thần kinh.

Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh (NCS) được sử dụng để phát hiện rối loạn thần kinh thật sự (như bệnh lý của dây thần kinh) hay bệnh lý do tổn thương thần kinh của cơ ( như hội chứng đường hầm cổ tay). Nhiệt độ cơ thể phải duy trì bình thường khi đo tốc độ dẫn truyền thần kinh, vì nếu nhiệt độ cơ thể thấp sẽ làm cho tốc độ dẫn truyền của thần kinh bị chậm lại.

Chỉ định:

Đo điện cơ có thể được dùng để phát hiện bất thường hoạt động điện của cơ xảy ra ở bất kỳ bệnh lý nào bao gồm:

  1. Hội chứng đường hầm cổ tay (bệnh thần kinh của cơ: Hội chứng ống cổ tay, hội chứng chèn ép thần kinh giữa)
  2. Bệnh loạn dưỡng cơ, viêm cơ
  3. Bệnh thần kinh gây đau, tổn thương thần kinh ngoại biên (tổn thương thần kinh cẳng tay, chân)
  4. Bệnh xơ cứng cột bên teo cơ (bệnh Lou Gehrig: Thoái hóa từ từ các tế bào thần kinh vận động ở tủy sống, thân não, vỏ não. Lâm sàng: yếu cơ, teo cơ).
  5. Bệnh nhược cơ.
  6. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng…
  7. Và các bệnh lý thần kinh cơ khác.

       Chống chỉ định:

  1. Người bệnh không đồng ý đo điện cơ đồ.
  2. Người bệnh hôn mê, tâm thần, không hợp tác, hợp tác kém.
  3. Người bệnh tổn thương cơ quan đích giai đoạn cuối (suy tim, suy thận, suy gan, suy đa tạng…)
  4. Người bệnh truyền nhiễm, nan y (HIV – AIDS, SARS, bệnh hủi, ung thư giai đoạn cuối…)

Tác dụng phục vụ chẩn đoán và điều trị khi đo điện cơ:

Đo điện cơ thường được thực hiện  khi người bệnh bị yếu cơ mà không giải thích được. Đo điện cơ giúp phân biệt giữa bệnh cơ mà trong đó nguyên nhân gây bệnh xuất phát từ cơ và  yếu cơ do rối loạn thần kinh. Đo điện cơ cũng có thể sử dụng để phát hiện yếu cơ thật sự, ngược với yếu cơ do đau làm người bệnh không dám cử động nhiều.

Chuẩn bị người bệnh khi đo điện cơ:

Người lớn không chuẩn bị gì đặc biệt. Trẻ em, cần chuẩn bị tâm lý theo lứa tuổi, thái độ, kinh nghiệm của trẻ.( hỏi xem trẻ đã từng trải qua các sang chấn y học: nhổ răng, bị chích thuốc?)

Đo điện cơ có gây đau:

Lúc cắm kim (điện cực) vào làm người bệnh đau trong chốc lát, giống như khi tiêm bắp, châm cứu. Đau có thể hết trong vài ngày

BSCKII Đỗ Kim Hoa – Khoa Chẩn Đoán Chức Năng

Đăng ngày 28-01-2016