Liên hệ:

1900 0339

Breadcrumb Navigation

Ngày Đăng :

Danh Mục :

Báo cáo tổng kết Hội nghị khoa học Bệnh viện Quân y 121 năm 2015

BÁO CÁO TỔNG KẾT HỘI NGHỊ KHOA HỌC

BỆNH VIỆN QUÂN Y 121 NĂM 2015

Đại tá BSCKII Nguyễn Minh Thuần

Giám đốc BVQY121

Kính thưa:

 Thiếu tướng GSTS Lê Trung Hải, Phó Cục trưởng Cục Quân y/ Bộ Quốc phòng

– Đại tá Lê Văn Hiền, Phó Cục trưởng Cục Hậu cần QK9

– Chủ tọa Hội nghị, đại biểu Cục Quân y, lãnh đạo Bệnh viện quân y Y175, Phòng Quân y, Bệnh viện quân y 120, Chủ nhiệm quân y và Bệnh xá trưởng các cơ sở Quân y thuộc Quân khu 9;

– Đại biểu BV Đa khoa TP Cần Thơ, BVĐK Trung tâm Tiền Giang, đại diện Ban Giám đốc các Bệnh viện, các Trung tâm, Phòng khám chuyên khoa trên địa bàn QK9.

– Kính thưa đại biểu nguyên là Giám đốc, Phó Giám đốc BVQY121,

Kính thưa quí vị đại biểu và quí đồng nghiệp!

Sau gần 4 giờ hội thảo khoa học, Hội nghị đã được nghe báo cáo lần lượt 12 đề tài nghiên cứu theo các lĩnh vực chuyên ngành Nội khoa, Ngoại khoa, Sản Nhi, Cộng đồng cùng một số các chuyên đề về Dược và Trang bị y tế, các đại biểu đã sôi nổi thảo luận dưới sự điều khiển của các Chuyên viên trong và ngoài Quân đội, góp phần xác định tính khoa học của các đề tài nghiên cứu tại Hội nghị này. Thay mặt Ban Chỉ đạo, Ban Nội dung, Ban Tổ chức Hội nghị và tổng hợp ý kiến của Chủ tọa Hội nghị, tôi xin báo cáo tổng kết Hội nghị khoa học Bệnh viện Quân y 121 năm 2015 như sau:

I. Về công tác chuẩn bị Hội nghị: Bệnh viện đã chủ động chuẩn bị Hội nghị ngay từ đầu năm 2015, tháng 6/2015 đã gửi thông báo tiếp nhận đề tài; đến 7/2015  xây dựng xong kế hoạch tổ chức Hội nghị, phân công công việc cụ thể cho Ban nội dung, Ban tổ chức, dự trù kinh phí và trình Thủ trưởng phê duyệt. Nhờ được thông báo sớm, các chủ nhiệm đề tài đã có đủ thời gian để chuẩn bị và hoàn chỉnh đề tài khoa học kịp thời tham gia Hội nghị.

Ban Nội dung Hội nghị đã nhận được gần 70 đề tài nghiên cứu khoa học từ BVQY121, BVQY120, BVQY 175, BVĐK TP Cần Thơ và BVĐK Tiền Giang. Ban Nội dung đã tuyển chọn 32 đề tài xuất sắc nhất ở các chuyên ngành, biên tập và in thành Kỷ yếu Hội nghị với hơn 250 trang giấy A4 nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của quý vị đại biểu được thuận lợi trong quá trình Hội nghị. Những đề tài còn lại chúng tôi sẽ lần lượt cập nhật trên website của Bệnh viện để các đồng nghiệp tham khảo.

II. Về nội dung Hội nghị: Ban nội dung đánh giá nội dung nghiên cứu các đề tài ở Hội nghị lần này rất sâu sắc; từ bố cục đến các nội dung nghiên cứu đều mang tính khoa học và thực tiễn cao, các tác giả đã đề cập khá đầy đủ các ứng dụng vào chẩn đoán, điều trị và y học cộng đồng với các nội dung khá phổ biến và được nhiều quan tâm ở  ĐBSCL hiện nay, cụ thể là:

– 16 đề tài nghiên cứu về chuyên ngành Ngoại khoa      

– 3 đề tài nghiên cứu về Gây mê và Hồi sức cấp cứu.

– 9 đề tài nghiên cứu bệnh lý Nội khoa

– 2 đề tài nghiên cứu về Thận nhân tạo

– 2 đề tài nghiên cứu về lĩnh vực Điều dưỡng và công tác Dược

  Nội dung cụ thể của các chuyên ngành có thể tổng hợp như sau:

1/ Chuyên ngành Ngoại khoa: 16 đề tài nghiên cứu về chuyên khoa Ngoại Chấn thương, Ngoại Thần kinh, Sản, Tiêu hóa, Tiết niệu và Lồng ngực.  

Nghiên cứu về tán sỏi nội soi ngược dòng bằng nguồn năng lượng laser tại BVQY121 củaThSBSCK2 Nguyễn Tấn Phong và cs cho 102 BN với tỉ lệ thành công trên 98%, thống kê kết quả tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản qua nội soi hông lưng theo kiểu cắt rời tại BVĐK TPCT của BS Nguyễn Đức Duy và cs đạt kết quả tốt 72,7%, trung bình 27,3% và không có trường hợp nào phải mổ lại là những thành công rất đáng khích lệ.

BS Lê Văn Công và cs đã nghiên cứu về phẫu thuật điều trị chấn thương cột sống lưng – thắt lưng bằng lối sau tại BVQY121 cho 45 BN cho kết quả rất tốt 86,7%, khá 6,7%, trung bình 6,6% và những biến chứng trong phẫu thuật không đáng kể.

Sai khớp vai là tổn thương hay gặp trong các chấn thương vùng vai và nếu không được điều trị sẽ ngày càng nặng và dẫn tới mất vững khớp vai và sai khớp vai tái diễn. BS Phan Đình Mừng và cs đã nghiên cứu 10 BN sai khớp vai sai khớp vai ra trước và tái diễn do chấn thương bằng nội soi làm vững khớp vai bằng chỉ neo cố định sụn viền và bao khớp. Bước đầu cho thấy 100% không có biến chứng trong và sau mổ, 08 BN được theo dõi đến tháng thứ X sau mổ đạt kết quả tốt theo thang điểm Rowr, tầm vận động phục hồi và không có sai khớp tái phát.

BSCK2 Nguyễn Minh Phong và cs nghiên cứu điều trị gãy thân xương đùi bằng đinh Sign cho 41 BN tại BVQY121 với kết quả rất tốt đạt 91% và kết luận rằng đây là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, thời gian anwmf viện ngắn, hồi phục nhanh và tính thẩm mỹ cao.

Phẫu thuật nội soi điều trị bướu giáp thể nhân đơn thuần có ý nghĩa quan trọng về yêu cầu thẩm mỹ. BSCK2 Tô Minh Khá và cs đã điều trị cho 37 BN tại BVQY121, tất cả BN đều mổ an toàn, hài lòng về tính thẩm mỹ, một số biến chứng nhẹ xảy ra sau mổ được khắc phục hoàn toàn sau 3 tháng.

Bệnh ngón tay bật còn gọi là bệnh ngón tay cò sung, do bao gân gấp dầy lên làm long bao gân hẹp lại, gân gấp trượt trong bao gân sẽ khó khăn khiến ngón tay không duỗi được hoặc gây đau chói. 6 tháng đầu năm 2015 ThSBS Lê Mộng Tuyền và cs đã tiến hành phẫu thuật điều trị cho 15 BN tại BVQY120, gặp nhiều nhất ở ngón cái và ngón trỏ bàn tay phải. 100% phục hồi vận động tốt sau 1 tháng và không bị tái phát.

BS Trần Hiếu Nhân và cs đã nghiên cứu điều trị 153 BN bị chấn thương bụng kín hoặc vết thương thấu bụng tại BVĐK TPCT. Tuổi trung bình là 33, nguyên nhân chủ yếu là do bạch khí và TNGT, phẫu thuật 58,2% do CTBK và 72,7% do VTTB, biến chứng sau mổ 13,4%, tỉ lệ tử vong 2,5%. Nghiên cứu kết luận siêu âm và CT Scanner giúp chẩn đoán chính xác cao.

Phình ĐM chủ bụng gặp ngày càng nhiều ở nước ta và nguy cơ tử vong rất cao nếu không xử trí kịp thời. BS Phạm Văn Phương và cs nghiên cứu kết quả điều trị 24 BN PĐMCB dưới động mạch thận bằng phẫu thuật, trong đó 04 BN khối phồng đã vỡ. Kết quả phẫu thuật Tốt 54,1%, Khá 20%, TB 8,3%, tử vong 16,6%. Đáng tiếc là tác giả không đưa ra phần kỹ thuật phẫu thuật trong phương pháp tiến hành nghiên cứu.

PT nội soi thai ngoài tử cung được BSCK2 Khưu Văn Hậu và cs thực hiện 56 BN tại BVQY121 thành công 100%, thời gian PT trung bình là 51 phút, biến chứng PT 3,6% và khắc phục dễ dàng.

Đốt sống cao tần trong điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới là một phương pháp điều trị khá mới, được thực hiện ở Châu Âu từ 1998 và Việt Nam thực hiện năm 2011. BS Nguyễn Văn Trang và cs đã thực hiện kỹ thuật này được 52 BN tại BVĐK TPCT kể từ 28/5/2014. Kết quả cho thấy độ tuổi trung bình là 56, tổn thương tắc hoàn toàn tĩnh mạch hiển lớn phát hiện trên siêu âm là 98,1%. 90,4% không đau sau điều trị, 86,5% nằm viện trong 24 giờ và 98,1% hoàn toàn hài long với kết quả phẫu thuật.

BS La Văn Phú và cs nghiên cứu kết quả phẫu thuật nội soi điều trị 31 BN sỏi đường mật chính tại BVĐK TPCT. Kết quả cho thấy thời gian mổ trung bình là 98 phút, 02 BN (6,5%) chuyển mổ mở, 93,5% lấy hết sỏi, biến chứng sau mổ 13,2% và được điều trị nội khoa khỏi hoàn toàn, không có BN tử vong. Kết quả tốt 80,6%, trung bình 9,7%.

Nhóm nghiên cứu khối chuyên khoa RHM, Mắt và TMH của BVQY121 đã nghiên cứu điều trị 112 BN gãy xương gò má cung tiếp, 30 BN mộng thịt và 348 BN nghẹt mũi do viêm cuốn mũi quá phát bằng PT nội soi lấy bỏ xương cuốn mũi giữ lại niêm mạc, bước đầu 100% đạt kết quả khả quan, không có biến chứng gì đáng kể trong mẫu nghiên cứu.

BS Lê Văn Minh và cs điều trị bảo tồn cho 36 BN vỡ gan do CT bụng kín tại BVĐK Tiền Giang với kết quả  thành công 91,67%; 03 BN phẫu thuật sau 24 giờ theo dõi và điều trị nội khoa, không có biến chứng nặng hoặc tử vong. Tác giả kết luận điều trị bảo tồn trong vỡ gan là phương pháp điều trị an toàn, tỉ lệ thành công cao và khuyến cáo nên chụp CT Scanner ổ bụng để chủ động hơn trong quá trình điều trị và theo dõi.

2/ Chuyên ngành Gây mê và HSCC:

BSCK2 Phạm Thiều Trung nghiên cứu 116 BN được gây mê toàn diện và kiểm soát hô hấp bằng ống NKQ 2 nòng cho các phẫu thuật lồng ngực. Kết quả tốt 96,5%; Khá 3,5%; không có BN tử vong. Biến chứng trong gây mê gặp 4,3% thiếu oxy, 7,7% không đủ độ mê và được xử trí kịp thời. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong thời gian tới. Một nghiên cứu khác của BS Phạm Thiều Trung về phối hợp gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng trong PT thay khớp háng nhằm giảm liều thuốc tê và khắc phục các tác dụng phụ của 2 phương pháp đơn độc, bảo đảm vô cảm cho phẫu thuật kéo dài và giảm đau sau mổ rất tốt. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này thời gian PT trung bình chỉ 51 phút thì việc phối hợp 2 phương pháp vô cảm xem ra cũng không cần thiết lắm.

BSCK2 Đặng Ngọc Thuyết và cs nghiên cứu tình trạng tăng đường huyết phản ứng ở 67 BN đa chấn thương, có chấn thương sọ não điều trị tại khoa HSCC BVQY121. Kết quả cho thấy có 46,26% BN tăng đường huyết phản ứng; trong đó tăng 8 – 11 mmol/L chiếm 35,8% và trên 11 mmol/L chiếm 10,46%. Có sự tương quan nghịch giữa điểm Glasgow với mức tăng đường huyết phản ứng.

3/ Chuyên ngành Nội khoa: 09 đề tài nghiên cứu về chuyên khoa Nội Tim mạch, Nội Tiêu hóa, Nội Thần kinh và Y học cổ truyền.

BSCK2 Lê Thanh Dung và cs nghiên cứu RL Lipide máu ở sỹ quan cao cấp năm 2015 tại BVQY121 cho thấy tỉ lệ RL Lipide chiếm 84,1%. Liên quan tăng Lipide máu có 39,8% thừa cân, 44,3% béo bụng, 27,9% tăng HA; 17,5% đái tháo đường và 38,2% gan nhiễm mỡ. Tác giả khuyến cáo nên thường xuyên tầm soát bilan Lipide máu và tuân thủ nghiêm ngạt các khuyến cáo trong nước và quốc tế đối với tình trạng RL Lipide máu.

BS Nguyễn Ngọc Hằng và cs nghiên cứu kết quả điều trị 63 BN XHTH do vỡ giãn TM thực quản trên BN xơ gan bằng thắt vòng cao sau tại BVĐKTT TG. Kết quả cho thấy BN ở độ tuổi trung bình là 53, hiệu quả cầm máu đạt 96,82%, tái phát 1,59% và thất bại 1,59%. Không có tai biến trong quá trình thực hiện kỹ thuật và kết luận đây là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cao.

BS Trần Dạ Thảo và cs nghiên cứu tình hình đề kháng Insulin ở 196 BN tăng HA nguyên phát tại BVĐK TPCT nhận thấy tỉ lệ đề kháng Insulin là 70,92%; nguy cơ ở người thừa cân gấp 3,1 lần, béo bụng gấp 2,7 lần, tăng Triglyceride gấp 2,8 lần, tăng Cholesterol gấp 4,2 lần và giảm HDL-C gấp 6,1 lần. Tác giả khuyến cáo việc xét nghiệm nồng độ Insulin máu giúp đánh giá tình trạng đề kháng Insulin ở BN THA nguyên phát là thật sự cần thiết đối với việc điều trị và dự phòng biễn cố tim mạch, nhất là ở các BN có RL chuyển hóa.

TSBS Trương Đình Cẩm và cs nghiên cứu đánh giá bước đầu 49 Bn đóng thông liên nhĩ bằng dụng cụ Amplatzer tại BVQY175 cho thấy tỉ lệ thành công đạt 95,9% và không có biến chứng. Kết quả siêu am qua thành ngực sau 3 tháng cho thấy có sự cải thiện đáng kể về đường kính thất phải, áp lực tâm thu động mạch phổi, mức độ hở van 3 lá khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước thủ thuật.

 BSCK2 Lương Trác Nhàn và cs nghiên cứu 30 BN khi sử dụng quả lọc với màng lọc low-flux FX8 1,4 m2 của Fresenius tại BVQY121; sau 7 lần tái sử dụng cho thấy tỉ lệ hạ Ure máu trung bình, chỉ số Kt/V vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Tất cả các thông số xét nghiệm và dấu hiệu lâm sàng đều cải thiện rõ rệt.

BS Phạm Thị Ánh Tuyết và cs nghiên cứu mối liên quan giữa albumin huyết thanh với 1 số đặc điểm ở 186 BN lọc máu chu kỳ tại BVQY120. Tác giả nhận thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng là 28,5%; tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi và người lọc máu chu kỳ dưới 12 tháng gặp nhiều hơn. Giảm Albumin huyết thanh có liên quan đến tình trạng thiếu máu ở BN lọc máu chu kỳ.

BS Trịnh Hoàng Thanh nghiên cứu sự thay đổi nồng độ NT-ProBNP huyết tương ở 42 BN suy tim mạn tại BVQY121 nhận thấy sự khác biệt về nồng độ NT-ProBNP trung bình ở huyết tương BN theo tuổi, giới và nguyên nhân suy tim không có ý nghĩa thống kê. Có sự tương quan nghịch giữa nồng độ NT-ProBNP huyết tương với phân suất tống máu (EF) và tương quan thuận với mức độ suy tim.

BS Huỳnh Thị Tuyết Vân và cs nghiên cứu khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch của 250 BN gan nhiễm mỡ chẩn đoán qua siêu âm tại BVQY121 nhận thấy tỷ lệ mắc GNM tăng theo tuổi,. Tỷ lệ thừa cân, béo phì, béo bụng, đái tháo đường, THA, TG cao và HDL-c thấp tăng theo mức độ GNM. Nguy cơ bệnh ĐMV trong 10 năm tăng dần theo mức độ GNM.

BS Lê Đức Nhuận và cs nghiên cứu hiệu quả điều trị 135 BN nhiễm HIV/AIDS bằng thuốc ARV tại BVQY121 từ 9/2009 đến 9/2015 nhận thấy độ tuổi trung bình là 37; đa số bị nhiễm qua đường tình dục không an toàn (67,4%), 74,8% BN mang virus HIV sau 5 năm mới được tiếp cận điều trị và 60% BN đã sang giai đoạn II. Nhiễm trùng cơ hội chiếm 37,8% trong đó lao 20,7%; viêm phổi 13,3% và nấm Candida Abican 9,6%. Kết quả sau 6 tháng điều trị bằng ARV thỉ triệu chứng bị thiếu cân từ 42,2% giảm còn 17,7%; TCD4 trung bình 184/mm3 tăng lên 559/mm3; thiếu máu từ 40,7% xuống còn 8,9%.

BS Nguyễn Thị Thu Lan và cs nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị 136 BN có hội chứng cai rượu tại BVQY120 nhận thấy ở 100% là nam giới, có độ tuổi từ 30 đến 59; lâm sàng hay gặp là mất ngủ, run tay, RL tri giác, ảo giác, ảo thị, ảo thanh và hoang tưởng. Bệnh thường xuất hiện do giảm đột ngột lượng rượu uống hàng ngày, điều trị hội chứng cai rượu có thể thực hiện ở tuyến cơ sở với chủ yếu là bù nước điện giải, Diazepam và vit nhóm B liều cao.

BS Trần Văn Hoàng và cs nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 67 BN quai bị tại BVQY120 nhận thấy chủ yếu là sốt, viêm tuyến mang tai, đau góc hàm, viêm tinh hoàn và tăng Amylase máu. Tác giả khuyến cáo cần điều trị tích cực bệnh quai bị để phòng biến chứng vô sinh ở nam giới.

4/ Chuyên ngành Dược và Điều dưỡng:

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc tại BVQY121 và đề xuất xây dựng danh mục thuốc theo phân tích ABC-VEN của DSCK1 Nguyễn Ngọc Mai và cs; trên cơ sở phân tích dữ liệu đấu thầu cung ứng và sử dụng thuốc năm 2014 nhằm mục đích tối ưu hóa việc sử dụng kinh phí cũng như bảo đảm cung ứng thuốc chất lượng tốt, kịp thời và hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh.

Cử nhân Điều dưỡng Dương Văn Ghỉ nghiên cứu kết quả nằm nệm hơi chống loét (Lucass LC 5789) trong chăm sóc 56 BN nặng tại khoa HSCC BVQY121, nhận thấy 91,1% BN không bị loét trong suốt quá trình điều trị; 8,9% loét ở vùng cùng cụt từ giờ thứ 72 trở đi và chỉ ở giai đoạn 1 và 2. Đây là một nghiên cứu rất có ý nghĩa trong hỗ trợ điều trị cho các BN rối loạn ý thức và có yêu cầu điều trị thời gian dài.

Tóm lại: 32 chủ đề nghiên cứu hầu hết là những vấn đề mang tính cập nhật cao, nhiều kinh nghiệm quý báu rút ra từ những hoạt động chuyên môn thường nhật; một số đề tài hướng đến công tác chăm sóc, quản lý sức khỏe bộ đội và nhân dân ngày càng tốt hơn. Đặc biệt, có một số đề tài nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật điều trị mới như điều trị sỏi tiết niệu bằng tán sỏi laser, tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản qua nội soi, phẫu thuật nội soi tuyến giáp, phẫu thuật phình động mạch chủ bụng, điều trị suy tĩnh mạch nông bằng đốt song cao tần, phẫu thuật nội soi sỏi đường mật chính, gây mê thông khí một phổi trong phẫu thuật lồng ngực, điều trị bảo tồn vỡ gan, đóng thông liên nhĩ bằng dụng cụ Amplatzer… Tuy nhiên cũng có 1 số ít đề tài mang tính thống kê sơ sài, mục tiêu nghiên cứu chưa có ý nghĩa nhiều trong hoạt động chuyên môn và kết luận chỉ mang tính tổng hợp số liệu, chưa rút ra được những kinh nghiệm để khuyến cáo đồng nghiệp trong hoạt động khám chữa bệnh. Dù vậy, có thể khẳng định rằng Hội nghị lần này đã mang đến cho chúng ta rất nhiều thông tin y khoa hữu ích.

III. Công tác tổ chức triển khai Hội nghị: Ban Kế hoạch tổng hợp BVQY121 đã có những định hướng cho Hội nghị ngay từ những ngày đầu năm, xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị khá chi tiết và triển khai thực hiện rất nghiêm túc. Ban Nội dung Hội nghị đã tổ chức thu thập, sắp xếp tổng hợp phân loại đề tài, phân chia các khối chuyên ngành, in ấn giấy chứng nhận đề tài và Kỷ yếu Hội nghị được thực hiện khá công phu, đúng theo kế hoạch và đảm bảo tính khoa học cao.

Ban Tổ chức Hội nghị xin chân thành cám ơn và nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần nghiên cứu khoa học của các tập thể và cá nhân đã tham gia nhiều đề tài nghiên cứu, góp phần nâng cao qui mô và thành công của Hội nghị ngày hôm nay. Xin chân thành cám ơn quý đồng nghiệp trong và ngoài Quân đội đã nhiệt tình tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học trong Hội nghị hôm nay.

Tính đến giờ này HN khoa học BVQY121 năm 2015 đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra và chúng ta đã cùng nhau tổ chức buổi Hội nghị thành công tốt đẹp. Sau Hội nghị này, Ban Tổ chức sẽ cùng nhau rút kinh nghiệm để công tác tổ chức Hội nghị được tốt hơn ở những lần sau.

Thay mặt Ban Giám đốc BVQY121 và Ban Tổ chức Hội nghị, xin trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Cục Quân y/ Bộ Quốc phòng, BVQY175/ BQP, Thủ trưởng Cục Hậu cần QK9 và các cơ quan chức năng, cám ơn lãnh đạo các BV trong và ngoài Quân đội đã tham dự Hội nghị hôm nay, cám ơn Ban Giám đốc Bệnh viện quân y 121 qua các thời kỳ, cám ơn chủ nhiệm các đề tài khoa học và các đồng nghiệp; các công ty Dược phẩm tài trợ Hội nghị, cám ơn đội ngũ cán bộ nhân viên phục vụ Hội nghị và phóng viên, báo đài đã góp nên thành công của Hội nghị chúng ta.

Xin kính chúc Thủ trưởng, quý đại biểu và các đồng nghiệp sức khỏe, chúc các đồng nghiệp có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học để góp phần ngày càng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho các đối tượng bệnh nhân.

Xin trân trọng cám ơn!

Đại tá BSCKII Nguyễn Minh Thuần