Liên hệ:

1900 0339

Breadcrumb Navigation

Ngày Đăng :

Danh Mục :

Chẩn đoán loãng xương bằng chỉ số T-score và Z-score

Để giúp cho việc phát hiện sớm loãng xương trên các đối tượng có yếu tố nguy cơ và có biện pháp kịp thời điều trị tránh được nguy cơ gãy xương, Bệnh viện quân y 121 đã trang bị máy EXA – 3000 (với phương pháp đo hấp phụ tia X năng lượng kép (Dual Energy Xray Absorptiometry – DXA)).

DXA hiện nay được xem là phương pháp chuẩn để đo lường MĐX. DXA có nhiều ưu điểm so với các phương pháp khác như độ chính xác cao, sai số đo lường thấp, thời gian đo lường ngắn, chi phí tương đối rẻ,  độ bức xạ rất thấp, …(1). Nhưng DXA cũng có vài hạn chế nhất định, như không đo được mật độ xương trên một thể tích (còn gọi là  volumetric bone density) và nếu bệnh nhân mắc các chứng như chồi xương (osteophytosis) thì các đo lường MĐX không chính xác nữa.

DXA cung cấp  ước tính “areal BMD” – tức là mật  độ chất khoáng trên mỗi diện tích (tính  bằng  cm  vuông). Cụ thể hơn, máy DXA ước tính khối lượng chất khoáng (bone mineral content  – BMC), tính diện tích mà khối chất khoáng đo được đo, và lấy BMC chia cho diện tích. Vì thế đơn vị đo lường MĐX đo bằng máy DXA là gm/cm2.

Sau khi đã  đo mật  độ xương (MĐX-g/cm2), để chẩn  đoán loãng  xương  và  thiếu  xương  (osteopenia) cần dựa vào chỉ số T (còn gọi là T-scores).  Chỉ số T là  so sánh MĐX hiện tại với MĐX lúc tuổi 20-30 (còn gọi là MĐX tối  đa). Chỉ số T trong thực tế là số độ lệch chuẩn (SD hay standard deviations) của MĐX hiện tại so với MĐX tối  đa ở tuổi 20-30. MĐX tối  đa phải  được  ước tính từ một quần thể mang tính đại diện cao cho một chủng tộc (bởi vì MĐX khác biệt giữa các chủng tộc). Chỉ sốT có thể ước tính theo công thức sau đây:

 

T =

iMDX – mMDX

SD

 

Trong  đó:

iMĐX là mật độ xương của đối tượng i;

mMĐX là mật độ xương trung bình của quần thể trong độ tuổi 20-30 (còn gọi là peak bone mineral density);

SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương trung bình của quần thể trong độ tuổi 20-30.

Nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy MĐX ở phụ nữ dao động giữa các độ tuổi như mô tả trong Biểu đồ sau:

C:UsersAdministratorDesktop1.jpg

Biểu đồ. Mối liên hệ giữa độ tuổi và mật độ xương đo bằng kĩ thuật DXA (GELunar) tại cột xương sống (lumbar spine, biểu đồphía trái) và cổ xương đùi (femoral neck, phía phải) ở phụ nữ Việt Nam.

Dựa vào số liệu này, có thể ước tính mMĐX tại cổ xương đùi là 0.94 g/cm2 và SD= 0.11 g/cm2; tại xương cột sống mMĐX =1.16 g/cm2 và SD= 0.13 g/cm2.(2)

Tiêu chuẩn của WHO lúc ban  đầu chỉ  ứng dụng cho phụ nữ. Vấn  đề là làm thế nào để  định nghĩa loãng xương ở  đàn ông, bởi vì  đàn ông nói chung có MĐX cao hơn phụ nữ. Tuy nhiên, gần đây qua nhiều nghiên cứu, các chuyên gia cũng đề nghị tiêu chuẩn này cho đàn ông, với điều kiện là MĐX tối  đa  ở  đàn ông phải  được nghiên cứu cẩn thận. Nếu sử dụng tiêu chuẩn của phụ nữ thì rất ít đàn ông được xếp vào nhóm loãng xương.

Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization – WHO) đã đề nghị các tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương như sau:

C:UsersAdministratorDesktop2.jpg

Các tiêu chuẩn chẩn đoán trên chỉ áp dụng cho các phụ nữ sau mãn kinh hay  đàn ông sau 50 tuổi, chứ không áp dụng cho các phụ nữ ở độtuổi trước mãn kinh. Sở dĩ không sử dụng T score cho những người dưới 50 tuổi do các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những trường hợp có loãng xương khi chưa đến 50 tuổi là do một nguyên nhân thứ phát (mãn kinh sớm, cường giáp, cường cận giáp, sử dụng corticoid kéo dài…).

Ngoài chỉ số T, các chuyên gia còn đề nghị tính toán chỉ số Z (còn gọi là Z-score). Khác với chỉ số T (so sánh MĐX hiện tại với MĐX tối đa ở tuổi 20-30), chỉ số Z so sánh MĐX hiện tại với MĐX của những người cùng tuổi trong một quần thể, và  đơn vị so sánh vẫn là độ lệch chuẩn SD. Nói cách khác, chỉ số Z được định nghĩa như sau:

iMDX tMDX

Z =

iMDX – tMDX

SD

 

Trong  đó:

iMĐX là mật độ xương của đối tượng i;

tMĐX là mật độ xương trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng;

SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với  đối tượng.

Nếu chỉ số Z cao hơn -2,0 thì MĐX trong phạm vi dự kiến của nhóm tuổi hay được đánh giá là bình thường. Chỉ số Z: +0.5, -0.5 hay -1.5 là phổ biến đối với phụ nữ tiền mãn kinh. (3)

Nếu chỉ số Z ≤ -2,0 thì MĐX dưới phạm vi dự kiến của nhóm tuổi. Nếu chỉ số Z trong phạm vi này, cần xem xét bệnh sử và các nguyên nhân có thể gây mất xương, bao gồm loãng xương thứ phát, trước khi đưa ra một chẩn đoán loãng xương. (3)

Tài liệu tham khảo:

(1): Tập san Thông tin Y học, sốtháng 7/2008; Nguyễn Văn Tuấn; Viện nghiên cứu Garvan, Sydney, Australia

(2): Peak bone mineral density in Vietnamese women. Osteoporosis Int 2008; inpress; Nguyen HTT, von Schoultz B, Pham DMT, Nguyen DB, Le QH,  Nguyen  DV, Hirschberg AL, Nguyen TV.

(3): What Women Need to Know-The National Osteoporosis Foundation.

DS Nguyễn Doãn Anh